Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý kiến nghị và kết quả giải quyết thủ tục hành chính chính thức đi vào hoạt động từ ngày 16/08/2018

   Thứ 1, Ngày 17 tháng 1 năm 2021


Trang chủ

Phản ánh, kiến nghị
của người dân, doanh nghiệp


Hỏi đáp


Trả lời kiến nghị của cử tri


Hướng dẫn sử dụng

NỘI DUNG TRẢ LỜI KIẾN NGHỊ CỦA CỬ TRI



 V/v trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới trước kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XIV

Câu hỏi: 

“1. Cử tri kiến nghị việc thực hiện chủ trương sáp nhập bộ máy, tinh giản biên chế trong các cơ quan nhà nước đã mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, còn có một số tồn tại như: Số lượng công việc nhiều nhưng lực lượng cán bộ, công chức thực hiện lại ít, cán bộ, công chức thực hiện việc kiêm nhiệm nhiều nhưng chế độ, chính sách đối với các đội ngũ này chưa phù hợp. Đề nghị Chính phủ cần có sự sắp xếp hợp lý để tăng thêm số lượng cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn. Đồng thời, có chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức kiêm nhiệm sau sáp nhập, tinh giản cho phù hợp trong điều kiện hiện nay (câu số 15) 2. Cử tri kiến nghị Chính phủ cần xem xét và có chính sách hỗ trợ cho cán bộ bán chuyên trách đang công tác tại Văn phòng Đảng ủy xã, thị trấn trên địa bàn cả nước. Hiện tại, do khối lượng công việc của bộ phận Văn phòng Đảng ủy nhiều và số lượng cán bộ thực hiện nhiệm vụ còn ít nên không đủ đảm đương với khối lượng công việc. Vì vậy, kiến nghị Nhà nước cần quan tâm xem xét để có chính sách hỗ trợ tương xứng đối với những người công tác trong lĩnh vực này (câu số 34) 3. Cử tri có ý kiến về việc triển khai đưa Công an chính quy về đảm nhiệm chức danh Công an xã còn bộc lộ những khó khăn, vướng mắc cần sớm được tháo gỡ. Ðó là: lộ trình bố trí công tác, giải quyết chế độ chính sách đối với lực lượng Công an bán chuyên trách, nhất là với chức danh Trưởng Công an xã, do hiện nay số Trưởng Công an xã bán chuyên trách còn trong độ tuổi công tác, nhiều người chưa qua đào tạo, vì vậy khó bố trí công tác khác (do chưa có chính sách cụ thể cho nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng của lực lượng Công an xã bán chuyên trách hiện nay). Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác còn hạn chế, Công an các xã chưa có nơi làm việc độc lập, sử dụng chung trụ sở với UBND xã nên khi bố trí Công an chính quy về đảm nhiệm các chức danh Công an xã chưa bảo đảm điều kiện làm việc, sinh hoạt. Do vậy, kiến nghị Chính phủ cần có những quy định tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trên để việc triển khai thực hiện chủ trương trên đạt hiệu quả cao trong thời gian tới (câu số 35) 4. Cử tri kiến nghị Chính phủ cần xem xét bổ sung các quy định của pháp luật liên quan về việc quy định số lượng, chức danh, chế độ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã, ấp (khu phố). Vì hiện nay, sau khi thực hiện sáp nhập địa giới hành chính các ấp (khu phố), các chức danh hoạt động ở ấp (khu phố) gồm: Bí thư kiêm Trưởng ấp (khu phố), Trưởng ấp (khu phố) Trưởng Ban công tác ấp (khu phố) nhưng không có Phó ban, như thế hoạt động của các ấp (khu phố) gặp nhiều khó khăn. Do đó, đề nghị Chính phủ cần xem xét bổ sung chức danh Phó ban ấp (khu phố) vào quy định pháp luật liên quan để đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ ở địa phương (câu số 36).
Gửi bởi : Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai
Công văn số 6568/BNV-CQĐP ngày 14/12/2020 của Bộ Nội vụ trả lời cử tri tỉnh Đồng Nai như sau:
1.Về đề nghị tăng thêm số lượng cán bộ, công chức cấp xã và chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức kiêm nhiệm chức danh a) Về tăng thêm số lượng cán bộ, công chức cấp xã Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” Nghị quyết số 39- NQ ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Ngày 24/4/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 34/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố. Trong đó, đã quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã theo phân loại đơn vị hành chính, cụ thể: đơn vị hành chính cấp xã loại 1 có tối đa 23 người, cấp xã loại 2 có tối đa 21 người, cấp xã loại 3 có tối đa 19 người. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định bố trí số lượng cán bộ, công chức cấp xã bằng hoặc thấp hơn quy định nêu trên, bảo đảm đúng với chức danh quy định tại Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. b) Về chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức cấp xã kiêm nhiệm chức danh Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố và Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ Nội vụ hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố đã quy định cụ thể về việc kiêm nhiệm chức danh và mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh đối với cán bộ, công chức cấp xã. 2. Về chức danh, số lượng và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Nghị định số 34/2019/NĐ-CP và Thông tư số 13/2019/TT-BNV nêu trên đã quy định cụ thể về số lượng, chức danh và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Theo đó, căn cứ vào quỹ phụ cấp quy định tại Nghị định này và căn cứ vào đặc thù của từng cấp xã, yêu cầu quản lý, tỷ lệ chi thường xuyên của cấp xã, nguồn kinh phí chi cho cải cách chính sách tiền lương của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định cụ thể chức danh và bố trí số lượng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã bằng hoặc thấp hơn quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 34/2019/NĐCP nêu trên mức phụ cấp của từng chức danh, mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã mức khoán kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Như vậy, việc quy định số lượng, chức danh và chế độ phụ cấp để chi trả hàng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã (trong đó có đối tượng cử tri nêu) thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo quy định nêu trên. Trong điều kiện ngân sách còn khó khăn, việc quy định chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã đã cơ bản bảo đảm tương quan hợp lý với hệ số lương của cán bộ, công chức cấp xã. 3. Đề nghị đối với việc bố trí công tác, giải quyết chế độ, chính sách đối với lực lượng Công an xã bán chuyên trách và trụ sở, phương tiện, trang thiết bị làm việc cho lực lượng Công an xã, thị trấn chính quy a) Về bố trí công tác và giải quyết chế độ, chính sách đối với lực lượng Công an bán chuyên trách Đối với đề nghị của cử tri nêu trên, Thủ tướng Chính phủ đã có Thông báo số 312/TB-VPCP ngày 28/8/2020 kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp thường trực Chính phủ về dự thảo Nghị định quy định việc xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy (kèm theo). b) Về bố trí trụ sở, phương tiện, trang thiết bị làm việc cho lực lượng Công an xã, thị trấn chính quy Đề nghị của cử tri về việc bố trí trụ sở, phương tiện, trang thiết bị làm việc đối với Công an xã, thị trấn chính quy không thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ Nội vụ. 4. Về số lượng, chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố Theo quy định tại khoản 6 Điều 2 Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố thì ngoài 03 chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được hưởng phụ cấp (Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban công tác mặt trận), còn có những người trực tiếp tham gia vào hoạt động của thôn, tổ dân phố (trong đó có đối tượng cử tri nêu) được hưởng bồi dưỡng, mức bồi dưỡng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư số 13/2019/TT-BNV nêu trên. Trên đây là trả lời của Bộ Nội vụ , xin trân troṇg gửi tới Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai để trả lời cử tri./.


BỘ NỘI VỤ
Địa chỉ: Số 8 Tôn Thất Thuyết - Nam Từ Liêm - Hà Nội

Điện thoại: (84-024)62821018
Email: phananh@moha.gov.vn