Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý kiến nghị và kết quả giải quyết thủ tục hành chính chính thức đi vào hoạt động từ ngày 16/08/2018

   Thứ 5, Ngày 5 tháng 8 năm 2021


Trang chủ

Phản ánh, kiến nghị
của người dân, doanh nghiệp


Hỏi đáp


Trả lời kiến nghị của cử tri


Hướng dẫn sử dụng
THÔNG TIN CHUNG
Số lượt xem : 1808
Họ và tên: Trần Thị Phương Hằng
Địa chỉ : Hà Nội
Điện thoại : 0982564782
Email : tranthiphuonghang@moha.gov.vn
Lĩnh vực:Tiền lương
Nơi phản ánh, kiến nghị :
Phản ánh, kiến nghị về việc  : thực hiện chính sách quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP
NỘI DUNG PHẢN ÁNH, KIẾN NGHỊ

Thực hiện chính sách quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP

Ngày phản ánh: 14/07/2021 Người tiếp nhận: Ngày hẹn trả lời: 11/08/2021
TRẢ LỜI PHẢN ÁNH KIẾN NGHỊ
Về việc thực hiện Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Nghị định số 76/2019/NĐ-CP). Vụ Tiền lương đã báo cáo Lãnh đạo Bộ và đã có văn bản trả lời các cơ quan, đơn vị, người dân và doanh nghiệp về thực hiện chính sách Nghị định số 76/2019/NĐ-CP. Để các cơ quan, đơn vị, người dân và doanh nghiệp thực hiện tốt các chính sách quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP, Vụ Tiền lương tổng hợp các nội dung đã trả lời và biên tập thành một số nội dung hỏi đáp về thực hiện chính sách quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ (kèm theo dưới đây): Phụ Lục Về hỏi đáp thực hiện chính sách quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP (kèm theo công văn số 269/TL ngày 18/6/2021 của Vụ Tiền lương, Bộ Nội vụ) 1. Về phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 76/2019/NĐ-CP: Câu hỏi: Phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 76/2019/NĐ-CP quy định như thế nào? Trả lời: Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì: Nghị định này quy định về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang (Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và cơ yếu) công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gồm: Phụ cấp thu hút; phụ cấp công tác lâu năm; trợ cấp lần đầu; trợ cấp tiền mua và vận chuyển nước ngọt và sạch; trợ cấp một lần khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khi nghỉ hưu; thanh toán tiền tàu xe; trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; phụ cấp ưu đãi theo nghề; phụ cấp lưu động và phụ cấp dạy tiếng dân tộc thiểu số đối với nhà giáo, viên chức quản lý giáo dục. Câu hỏi: Vùng đặc biệt khó khăn được áp dụng chính sách theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP bao gồm những địa bàn nào? Trả lời: Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì: Vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được áp dụng chính sách tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP bao gồm: a) Huyện đảo Trường Sa, Hoàng Sa, DK1; b) Các xã khu vực III thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, xã đảo đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; c) Các thôn, buôn, xóm, bản, làng, phum, sóc, ấp,… (gọi chung là thôn) đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Theo phân công của Chính phủ thì: - Ủy ban Dân tộc có nhiệm vụ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định quy định các xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi, đồng thời hướng dẫn thực hiện các chính sách liên quan đến vùng dân tộc và miền núi. - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định quy định các xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, đồng thời hướng dẫn thực hiện các chính sách liên quan đến vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì chủ trì việc xây dựng Chương trình nông thôn mới và hướng dẫn các chính sách của Chương trình nông thôn mới. Căn cứ quy định nêu trên thì địa bàn xã, thôn đặc biệt khó khăn được áp dụng chính sách quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP thực hiện theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. 2. Về đối tượng áp dụng: Câu hỏi: Đối tượng áp dụng Nghị định số 76/2019/NĐ-CP bao gồm những trường hợp nào? Trả lời: Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì đối tượng áp dụng Nghị định số 76/2019/NĐ-CP bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang (bao gồm cả trường hợp điều động, biệt phái, luân chuyển và không phân biệt người địa phương hay người nơi khác đến) đã được xếp lương theo bảng lương do cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước quy định, đang công tác và đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gồm: 1. Cán bộ, công chức, viên chức (kể cả người tập sự) trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến cấp xã; 2. Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp và Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; 3. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; 4. Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng hưởng lương từ ngân sách nhà nước thuộc Công an nhân dân; 5. Người làm việc trong tổ chức cơ yếu; 6. Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế trong các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động quy định tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội và Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. 3. Về nguyên tắc áp dụng: Câu hỏi: Việc áp dụng chính sách theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP theo nguyên tắc nào? Trả lời: Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì: 1. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang thuộc đối tượng áp dụng chính sách quy định tại Nghị định này, đồng thời thuộc đối tượng áp dụng chính sách cùng loại quy định tại văn bản quy phạm pháp luật khác thì chỉ được hưởng một mức cao nhất của chính sách đó. 2. Trường hợp nghỉ hưu, phục viên, xuất ngũ, thôi việc hoặc chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (hoặc nơi công tác được cấp có thẩm quyền quyết định không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) thì thôi hưởng chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định tại Nghị định này kể từ ngày nghỉ hưu, phục viên, xuất ngũ, thôi việc hoặc chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (hoặc nơi công tác được cấp có thẩm quyền quyết định không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn), trừ trường hợp quy định tại Điều 8 Nghị định này. 4. Về địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn: Câu hỏi: Các ấp, khóm, thôn sau khi sáp nhập hoặc được UBDT công nhận hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 giai đoạn 2017 - 2020 hoặc đạt chuẩn nông thôn mới có được tiếp tục hưởng chính sách không? Trả lời: Theo phân công của Chính phủ thì: Ủy ban Dân tộc có nhiệm vụ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định quy định các xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi, đồng thời hướng dẫn thực hiện các chính sách liên quan đến vùng dân tộc và miền núi; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định quy định các xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, đồng thời hướng dẫn thực hiện các chính sách liên quan đến vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì chủ trì việc xây dựng Chương trình nông thôn mới và hướng dẫn các chính sách của Chương trình nông thôn mới. Thực hiện Nghị quyết số 32/NQ-CP ngày 14/5/2019 của Chính phủ Ban hành Kế hoạch thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021, Ủy ban dân tộc đã có công văn số 389/UBDT-CSDT ngày 30/3/2020 hướng dẫn thực hiện chế độ chính sách dân tộc, trong đó tại điểm 1 công văn đã hướng dẫn: “Các xã, thôn khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt đã hoàn thành Chương trình 135 thì được tiếp tục thực hiện hỗ trợ đầu tư của Chương trình 135 đến hết năm ban hành Quyết định phê duyệt. Từ năm tiếp theo các xã, thôn này không thuộc diện hỗ trợ đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn 2017 - 2020”. Đến nay, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 04/NQ-CP ngày 12/01/2021 sửa đổi, bổ sung khoản 8 Mục III Kế hoạch thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021 ban hành theo Nghị quyết số 32/NQ-CP ngày 14/5/2019 của Chính phủ, trong Nghị quyết này đã quy định cụ thể chính sách đối với các địa bàn chia tách, sáp nhập; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 (thay thế các Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017; số 103/QĐ-TTg ngày 22/01/2019 và số 72/QĐ-TTg ngày 16/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc các xã, thôn trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi được tiếp tục thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội đã ban hành). Vì vậy, đề nghị căn cứ các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện các chính sách về an sinh xã hội theo quy định của pháp luật. Việc tổ chức thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (cơ quan tham mưu, giúp việc cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành là Sở Nội vụ). Vì vậy, trong quá trình thực hiện chính sách nếu có phát sinh vướng mắc, đề nghị các tổ chức, cá nhân liên hệ với Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố (nơi công tác) để được giải đáp. Câu hỏi: Xã không thuộc diện đặc biệt khó khăn thuộc huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP có được áp dụng chính sách theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP không? Trả lời: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì xã không thuộc diện đặc biệt khó khăn thuộc huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ không thuộc phạm vi áp dụng chính sách của Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Câu hỏi: Trường hợp công tác tại xã bãi ngang ven biển theo Quyết định số 131/QĐ-TTg có được hưởng chính sách không? Xã bãi ngang ven biển được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới được hưởng chính sách đến khi nào? Trả lời: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì trường hợp công tác tại xã bãi ngang ven biển tại Quyết định số 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ không thuộc phạm vi áp dụng chính sách của Nghị định số 76/2019/NĐ-CP kể từ ngày 01/12/2019 (ngày Nghị định số 76/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành). Xã đặc biệt khó khăn được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới thôi hưởng các chính sách kể từ ngày Quyết định của cấp có thẩm quyền công nhận đạt chuẩn nông thôn mới có hiệu lực. Câu hỏi: Xã khu vực III được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới thì có được tiếp tục thực hiện chính sách theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ hay không? Trả lời: Theo quy định tại Điều 3 Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025 thì các xã khu vực III, khu vực II được cấp có thẩm quyền công nhận đạt chuẩn nông thôn mới sẽ được xác định là xã khu vực I và thôi hưởng các chính sách áp dụng đối với xã khu vực III, khu vực II kể từ ngày Quyết định của cấp có thẩm quyền công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới có hiệu lực. Câu hỏi: Trên địa bàn huyện Lý Sơn không còn đơn vị hành chính cấp xã từ ngày 01/4/2020 thì có nằm trong phạm vi áp dụng Nghị định số 76/2019/NĐ-CP không? Trả lời: Trên địa bàn huyện Lý Sơn không còn đơn vị hành chính cấp xã từ ngày 01/4/2020 đề nghị thực hiện chính sách theo hướng dẫn tại điểm 2 công văn số 389/UBDT-CSDT ngày 30/3/2020 của Ủy ban Dân tộc hướng dẫn đối với đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp, sáp nhập, đổi tên và Nghị quyết số 04/NQ-CP ngày 12/01/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản 8 Mục III Kế hoạch thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021 ban hành theo Nghị quyết số 32/NQ-CP ngày 14/5/2019 của Chính phủ. 5. Về phụ cấp thu hút: Câu hỏi: Nghị định số 76/2019/NĐ-CP quy định phụ cấp thu hút cụ thể như thế nào? Trả lời: Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì: Đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này được hưởng phụ cấp thu hút bằng 70% mức lương hiện hưởng (theo bảng lương do cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước quy định) cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) áp dụng đối với thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn không quá 05 năm (60 tháng). 6. Về phụ cấp ưu đãi: Câu hỏi: Cán bộ, công chức, viên chức công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có được hưởng cả phụ cấp ưu đãi và phụ cấp thu hút theo quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP không? Trả lời: Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì cán bộ, công chức, viên chức đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đều được hưởng phụ cấp thu hút. Phụ cấp thu hút và phụ cấp ưu đãi quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP là hai loại phụ cấp khác nhau. Tại Điều 11Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định: Phụ cấp ưu đãi theo nghề bằng 70% mức lương hiện hưởng (theo bảng lương do cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước quy định) cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) áp dụng đối với thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này, gồm: 1. Công chức, viên chức và người lao động là nhà giáo, viên chức quản lý giáo dục trong các cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; 2. Công chức, viên chức và người lao động trực tiếp làm công tác chuyên môn y tế trong các cơ sở y tế của Nhà nước bao gồm: Trạm y tế cấp xã; Trạm y tế cơ quan, trường học; Phòng khám đa khoa khu vực; Nhà hộ sinh, Trung tâm y tế, Bệnh viện và các cơ sở y tế khác từ cấp xã trở lên; 3. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng, nhân viên quân y trực tiếp làm chuyên môn y tế tại các Trạm y tế kết hợp quân dân y. Căn cứ quy định nêu trên, cán bộ, công chức, viên chức không phải là nhà giáo, nhân viên y tế thì không thuộc đối tượng hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề. 7. Về trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn: Tại Điều 6 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP quy định: Đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này khi nhận công tác lần đầu ở cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng trợ cấp như sau: 1. Trợ cấp lần đầu bằng 10 tháng lương cơ sở tại thời điểm đến nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. 2. Trường hợp có gia đình cùng đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì ngoài trợ cấp lần đầu, còn được trợ cấp: a) Tiền tàu xe, cước hành lý cho các thành viên trong gia đình cùng đi tính theo giá vé, giá cước thực tế của phương tiện giao thông công cộng hoặc thanh toán theo mức khoán trên cơ sở số kilômét đi thực tế nhân với đơn giá phương tiện vận tải công cộng thông thường (tàu, thuyền, xe ô tô khách); b) Trợ cấp 12 tháng lương cơ sở cho hộ gia đình; 3. Các khoản trợ cấp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này do cơ quan, tổ chức, đơn vị ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nơi tiếp nhận, bố trí công tác chi trả ngay khi đối tượng được hưởng nhận công tác và chỉ thực hiện một lần trong tổng thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Câu hỏi: Trường hợp công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhưng chưa hưởng trợ cấp lần đầu theo Nghị định số 116/2010/NĐ-CP thì có được hưởng trợ cấp lần đầu theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP không? Trả lời: Căn cứ quy định tại Điều 6 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì kể từ ngày 01/12/2019, trường hợp đang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhưng chưa được hưởng trợ cấp lần đầu theo Nghị định số 116/2010/NĐ-CP của Chính phủ thì được hưởng trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Câu hỏi: Trường hợp đang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa đủ thời gian 3 năm đối với nữ và 5 năm đối với nam chưa nhận trợ cấp lần đầu theo Nghị định số 116/2010/NĐ-CP thì có được hưởng trợ cấp lần đầu theo Nghị số 76/2019/NĐ-CP không? Trà lời: Căn cứ quy định tại Điều 6 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì kể từ ngày 01/12/2019, trường hợp đang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhưng chưa đủ thời gian 3 năm đối với nữ và 5 năm đối với nam chưa được hưởng trợ cấp lần đầu theo Nghị định số 116/2010/NĐ-CP thì được hưởng trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Câu hỏi: Trường hợp đã nhận trợ cấp lần đầu theo Nghị định số 116/2010/NĐ-CP nhưng công tác chưa đủ thời gian 3 năm đối với nữ và 5 năm đối với nam thì có phải thu hồi kinh phí không? Trả lời: Việc tổ chức thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2019 (thay thế Nghị định số 116/2010/NĐ-CP), trên thực tế có các trường hợp sau: - Trường hợp vẫn đang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đã nhận trợ cấp lần đầu theo quy định tại Nghị định số 116/2010/NĐ-CP nhưng chưa đủ thời gian 03 năm đối với nữ và 05 năm đối với nam theo quy định tại Nghị định số 116/2010/NĐ-CP nhưng hiện đang công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì không thu hồi trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đã nhận. - Trường hợp không còn công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn do địa bàn được cấp có thẩm quyền công nhận không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc do cơ quan có thẩm quyền phân công, điều động công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì có thể cân nhắc không thu hồi trợ cấp lần đầu (vì đây là tình huống khách quan không phải do chủ quan của cá nhân). - Trường hợp đang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhưng do nguyện vọng cá nhân xin chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xem xét, quyết định việc thu hồi kinh phí hay không thu hồi kinh phí trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đối với từng trường hợp cụ thể bảo đảm tương quan nội bộ (đối với trường hợp công tác dưới 01 năm; trên 01 năm; trên 02 năm; trên 03 năm; trên 04 năm,….). 8. Về trợ cấp một lần khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn: Tại Điều 8 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP quy định: 1. Đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này đang công tác và có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 10 năm trở lên, khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khi nghỉ hưu (hoặc nơi công tác được cấp có thẩm quyền quyết định không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) thì được hưởng trợ cấp một lần tính theo thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn do cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trả lương trước khi chuyển công tác hoặc khi nghỉ hưu (hoặc nơi công tác được cấp có thẩm quyền quyết định không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) chi trả. 2. Mức trợ cấp một lần được quy định như sau: Mỗi năm công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được trợ cấp bằng 1/2 (một phần hai) mức lương tháng hiện hưởng (theo bảng lương do cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước quy định) cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) tại thời điểm chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khi nghỉ hưu (hoặc nơi công tác được cấp có thẩm quyền quyết định không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn). Câu hỏi: Các bộ, công chức, viên chức nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP (được sửa đổi tại Nghị định số 113/2018/NĐ-CP); Nghị định số 26/2015/NĐ-CP có được hưởng trợ cấp một lần theo Điều 8 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP hay không? Trả lời: Chính sách quy định tại Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ), chính sách quy định tại Nghị định số 26/2015/NĐ-CP và chính sách quy định tại Điều 8 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP là các chính sách khác nhau. Theo đó, các bộ, công chức, viên chức nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP (được sửa đổi tại Nghị định số 113/2018/NĐ-CP); nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 26/2015/NĐ-CP được hưởng trợ cấp một lần theo Điều 8 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Câu hỏi: Trường hợp nghỉ thôi việc theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP, nghỉ thôi việc theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Bảo hiểm xã hội có được hưởng trợ cấp một lần theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP không? Trả lời: Trường hợp nghỉ thôi việc theo quy định tại Nghị định số 108/2014/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 113/2018/NĐ-CP của Chính phủ) theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Bảo hiểm xã hội không phải đối tượng nghỉ hưu hoặc chuyển công tác ra vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không thuộc đối tượng áp dụng chính sách quy định tại Điều 8 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Câu hỏi: Trường hợp công tác trên 10 năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay vùng đó không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hoặc trường hợp có tổng thời gian công tác trên 10 năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (nhưng bị đứt quãng) có được hưởng trợ cấp một lần quy định tại Điều 8 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP hay không? Trả lời: Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP thì trường hợp công tác trên 10 năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay vùng đó không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hoặc trường hợp có tổng thời gian công tác trên 10 năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (nhưng bị đứt quãng) chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng trợ cấp một lần quy định tại Điều 8 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Câu hỏi: Trường hợp công tác chưa đủ 10 năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (do cơ quan, đơn vị sáp nhập, giải thể) khi nghỉ hưu có được hưởng trợ cấp một lần quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ không? Trả lời: Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP thì trường hợp công tác chưa đủ 10 năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (do cơ quan, đơn vị sáp nhập, giải thể) khi nghỉ hưu thì không được hưởng trợ cấp một lần khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc nghỉ hưu quy định tại Điều 8 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ. 9. Về các trợ cấp, phụ cấp khác: Câu hỏi: Trường hợp đang hưởng phụ cấp thu hút thì có được hưởng thêm phụ cấp lâu năm theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP không? Trả lời: Phụ cấp thu hút và phụ cấp công tác lâu năm là 2 loại phụ cấp khác nhau. Theo đó, cán bộ, công chức, viên chức công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng phụ cấp thu hút và phụ cấp công tác lâu năm quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Câu hỏi: Trường hợp đã hưởng phụ cấp thu hút đủ 5 năm theo Nghị định số 116/2010/NĐ-CP của Chính phủ, Nghị định số 61/2006/NĐ-CP và Nghị định số 64/2009/NĐ-CP của Chính phủ thì có tiếp tục được phụ cấp thu hút theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP nữa hay không? Trả lời: Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP thì trường hợp đã hưởng đủ phụ cấp thu hút đủ 5 năm theo Nghị định số 116/2010/NĐ-CP hoặc Nghị định số 61/2006/NĐ-CP hoặc Nghị định số 64/2009/NĐ-CP thì không được hưởng phụ cấp thu hút theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Câu hỏi: Trường hợp đã hưởng phụ cấp thú hút theo Nghị định số 116/2010/NĐ-CP của Chính phủ, Nghị định số 61/2006/NĐ-CP và Nghị định số 64/2009/NĐ-CP của Chính phủ nhưng chưa đủ 5 năm thì có tiếp tục được phụ cấp thu hút theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP không? Trả lời: Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ thì trường hợp vẫn đang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đã hưởng phụ cấp thu hút theo Nghị định số 116/2010/NĐ-CP hoặc Nghị định số 61/2006/NĐ-CP hoặc Nghị định số 64/2009/NĐ-CP chưa đủ 5 năm thì tiếp tục được hưởng phụ cấp thu hút theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP cho đến khi đủ 05 năm (60 tháng). Câu hỏi: Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức trong thời gian nghỉ ốm đau, thai sản có được hưởng phụ cấp, trợ cấp theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP không? Trả lời: Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 (thay thế Luật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11) thì người lao động trong thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau và lao động nữ hưởng chế độ thai sản được quỹ bảo hiểm xã hội chi trả, người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội. Theo đó, tại điểm c khoản 3 Điều 13 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định: Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, không được tính hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp của Nghị định số 76/2019/NĐ-CP là phù hợp với quy định của Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành. Câu hỏi: Đối tượng người lao động là nhà giáo (giáo viên hợp đồng) và người lao động trực tiếp làm công tác chuyên môn y tế trong trường học (nhân viên y tế hợp đồng) có được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề bằng 70% không? Trả lời: Tại Điều 11 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ đã quy định: Trường hợp người lao động là nhà giáo (giáo viên hợp đồng) và người lao động trực tiếp làm công tác chuyên môn y tế trong trường học (nhân viên y tế hợp đồng) được cấp có thẩm quyền xếp lương theo bảng lương do cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước quy định thì được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề bằng 70% mức lương hiện hưởng. Trường hợp người được ký hợp đồng lao động tại vị trí việc làm là giáo viên hoặc viên chức y tế mà trong hợp đồng lao động có ghi mức lương bằng tiền cụ thể, không theo bảng lương do cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước quy định thì không thuộc đối tượng hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề. Câu hỏi: Phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được thực hiện như thế nào? Trả lời: Tại Điều 5 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP quy định như sau: Đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này được hưởng phụ cấp hàng tháng tính theo mức lương cơ sở và thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn như sau: 1. Mức 0,5 áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 5 năm đến dưới 10 năm; 2. Mức 0,7 áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 10 năm đến dưới 15 năm; 3. Mức 1,0 áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 15 năm trở lên. Câu hỏi: Trợ cấp tiền mua và vận chuyển nước ngọt và sạch đối với người công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được thực hiện như thế nào? Trả lời: Tại Điều 7 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP quy định như sau: 1. Đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thiếu nước ngọt và sạch theo mùa được trợ cấp tiền mua và vận chuyển nước ngọt và sạch để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày sau khi đã trừ phần chi phí nước ngọt sinh hoạt được tính trong tiền lương, như sau: a) Căn cứ để tính trợ cấp tiền mua và vận chuyển nước ngọt và sạch cho một người bao gồm: Định mức tiêu chuẩn: 6 mét khối/người/tháng (a); Số tháng thực tế thiếu nước ngọt và sạch trong 1 năm (b); Chi phí mua và vận chuyển 01 mét khối nước ngọt và sạch đến nơi ở và nơi làm việc của đối tượng được hưởng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định (c); Giá nước ngọt và sạch để tính chi phí nước ngọt và sạch trong tiền lương là giá kinh doanh 01 mét khối nước sạch do cấp có thẩm quyền ở địa phương quy định (d). b) Cách tính: Mức trợ cấp được hưởng 01 tháng là: a x (c - d). Mức trợ cấp được hưởng trong 01 năm là: a x (c - d) x b. 2. Vùng thiếu nước ngọt và sạch theo mùa là vùng do điều kiện tự nhiên không có nước ngọt và sạch hoặc có nhưng không đủ phục vụ nhu cầu sinh hoạt từ 01 tháng liên tục trở lên trong năm. 3. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác định vùng thiếu nước ngọt và sạch theo mùa trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định thời gian hưởng và mức trợ cấp tiền mua và vận chuyển nước ngọt và sạch cho phù hợp với tình hình cụ thể của những nơi thiếu nước ngọt và sạch tại địa phương. Đối với người hưởng lương trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Ban Cơ yếu Chính phủ thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an. Câu hỏi: Đề nghị hướng dẫn thanh toán tiền tàu xe đối với cán bộ, công chức, công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn? Trả lời: Tại Điều 9 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP quy định như sau: Trong thời gian làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này nghỉ hàng năm, nghỉ ngày lễ, tết, nghỉ việc riêng thì ngoài tiền lương được hưởng theo quy định của pháp luật còn được thanh toán tiền tàu xe đi và về thăm gia đình theo quy định. Việc thanh toán thực hiện theo hướng dẫn tại các văn bản của Bộ Tài chính. Câu hỏi: Cán bộ, công chức, viên chức công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có được hưởng trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ không? Trả lời: Tại Điều 10 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP quy định như sau: Đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này được hưởng trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ như sau: 1. Trường hợp được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền cử đi học bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tham quan, học tập trao đổi kinh nghiệm thì được hỗ trợ tiền mua tài liệu học tập và hỗ trợ 100% tiền học phí, chi phí đi lại từ nơi làm việc đến nơi học tập; 2. Trường hợp công tác tại vùng dân tộc ít người tự học tiếng dân tộc để phục vụ nhiệm vụ được giao thì được hỗ trợ tiền mua tài liệu và tiền bồi dưỡng cho việc tự học tiếng dân tộc ít người bằng số tiền hỗ trợ cho việc học tập ở các trường, lớp chính quy. Câu hỏi: Nhà giáo, viên chức quản lý giáo dục công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có được hưởng phụ cấp lưu động và phụ cấp dạy tiếng dân tộc thiểu số không? Trả lời: Tại Điều 12 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP quy định như sau: 1. Phụ cấp lưu động Nhà giáo, viên chức quản lý giáo dục đang làm chuyên trách về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục mà phải thường xuyên đi đến các thôn được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2 so với mức lương cơ sở. 2. Phụ cấp dạy tiếng dân tộc thiểu số Nhà giáo, viên chức quản lý giáo dục dạy tiếng dân tộc thiểu số được hưởng phụ cấp 50% mức lương hiện hưởng (theo bảng lương do cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước quy định) cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có). 10. Về thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ tính hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp (Điều 13) Câu hỏi: Thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được quy định cụ thể như thế nào? Trả lời: Tại Điều 13 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định như sau: 1.Thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là tổng thời gian làm việc có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (nếu có thời gian đứt quãng mà chưa hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì được cộng dồn), bao gồm: a) Thời gian làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội; b) Thời gian làm việc trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và cơ yếu. 2. Cánh tính thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn như sau: a) Tính theo tháng: Trường hợp có từ 50% trở lên thời gian trong tháng thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo chế độ làm việc do cơ quan có thẩm quyền quy định thì được tính cả tháng; trường hợp có dưới 50% thời gian trong tháng thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì không tính; Đối với nhà giáo đạt từ 50% định mức giờ giảng trong tháng trở lên thì được tính cả tháng; thời gian nghỉ hè được hưởng lương đối với nhà giáo theo chế độ quy định của cơ quan có thẩm quyền thì được tính hưởng phụ cấp phụ cấp thu hút và phụ cấp ưu đãi theo nghề. b) Tính theo năm: Dưới 03 tháng thì không tính; Từ đủ 03 tháng đến đủ 06 tháng thì được tính bằng 1/2 (một phần hai) năm công tác; Trên 06 tháng thì được tính bằng 01 năm công tác. 3. Thời gian không được tính hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định tại Nghị định này, gồm: a) Thời gian đi công tác, làm việc, học tập không ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ 01 tháng trở lên; b) Thời gian nghỉ việc không hưởng lương liên tục từ 01 tháng trở lên; c) Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; d) Thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam. 11. Về việc ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 76/2019/NĐ-CP: Câu hỏi: Đề nghị Bộ Nội vụ ban hành Thông tư hướng dẫn Nghị định số 76/2019/NĐ-CP để các cơ quan, đơn vị có căn cứ áp dụng chính sách? Trả lời: Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đã quy định cụ thể phạm vi, đối tượng, nguyên tắc áp dụng và nội dung từng loại chính sách để thực hiện được ngay mà không giao các Bộ ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện. Vì vậy, đề nghị các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân căn cứ Nghị định số 76/2019/NĐ-CP nêu trên để thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc phạm vi quản lý theo đúng quy định. Trên đây là một số ý kiến giải đáp của Vụ Tiền lương về thực hiện chính sách quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ, đề nghị các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân tham khảo và nghiên cứu áp dụng đảm bảo thống nhất, phù hợp với quy định của pháp luật./.

BỘ NỘI VỤ
Địa chỉ: Số 8 Tôn Thất Thuyết - Nam Từ Liêm - Hà Nội

Điện thoại: (84-024)62821018
Email: phananh@moha.gov.vn